Bài viết - Tư liệu

Liên kết website

Ngắm cá

blogTrangHa

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của Cao Thống Suý

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Lịch sử nước ta

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Cao Thống Suý (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:20' 22-07-2011
    Dung lượng: 19.5 KB
    Số lượt tải: 7
    Số lượt thích: 0 người

    
     LỊCH SỬ NƯỚC TA
    (Từ năm 2979 trước Công Nguyên đến năm 1942)*
     
    Dân ta phải biết sử ta,
    Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
    Kể năm hơn bốn ngàn năm,
    Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hoà.
    *
                                                        *      *
    Hồng Bàng là tổ tiên ta,
    Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang .
    Thiếu niên ta rất vẻ vang,
    Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
    *
                                                        *      *
    Tuổi tuy chưa đến chín mười,
    Ra tay cứu nước diệt loại vô lương (1)
    An Dương Vương (2) thế Hùng Vương,
    Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
    *
                                                        *      *
    Nước Tàu cậy thế đông người,
    Kéo quân áp bức giống nọi Việt Nam.
    Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,
    Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi ?
     
     
    (*) Để giáo dục  tinh thần yêu nước cho nhân dân, phát huy lòng tự hào về lịch sử vẻ vang của dân tộc, động viên toàn dân đoàn kết và tham gia Mặt trận Việt Minh làm cách mạng, giành độc lập cho Tổ quốc. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc  trong thời gian hoạt động ở Cao Bằng đã sáng tác bài diễn ca dài: Lịch sử nước ta theo thể thơ lục bát, gồm 210 câu, và một bảng ghi “Những năm quan trọng” Kèm theo,xuất bản và phát xuống cơ sở vào tháng 2/1942. Nội dung chủ yếu của Lịch sử nước ta là ca ngợi những trang sử vẻ vang của dân tộc ta suốt từ thời Hồng Bàng dựng nước đến 1942, tức là năm tác phẩm ra đời.
                    Lịch sử nước ta có giá trị đặc biệt đứng về phương diện sử học. Lần đầu tiên lịch sử được đánh giá theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-LêNin.
    (1)    Loài vô lương: Chỉ giặc Ân (trong truyện Thánh Gióng tức Phù Đổng Thiên Vương).
    (2) An Dương Vương: Thục Phán dựng nước Âu Lạc, xưng là An Dương Vương.
     
     
     
     
     
     
     
    Hai Bà Trưng(1) Có đại tài,
    Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian(2)
    Ra tay khôi phục giang san,
    Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
    Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
    Tên là Triệu Ẩu(3)  tuổi vừa đôi mươi.
    Tài năng dũng cảm hơn người,
    Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương(4).
    Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
    Đánh đông, dẹp bắc làm gương để đời.
    Kể gần sáu trăm năm trời.
    Ta không đoàn kết bị người tính thôn(5).
    Anh hùng thay! Ông Lý Bôn(6).
    Tài kiêm văn võ sức hơn muôn người.
    Đánh Tàu đuổi giặc ra ngoài,
    Lập nên triều Lý sáu mươi năm liền.
    Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
    Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
    Thương dân cực khổ xót xa,
    Ông Mai Hắc Đế(7). đứng ra đánh Tàu.
    Vì dân đoàn kết chưa sâu,
    Cho nên thất bại trước sau mấy lần.
     
    (1)    Hai Bà Trưng: Trưng Trắc và Trưng Nhị, hai chị em ruột, con quan Lạc tướng Mê Linh tức là vùng Hạ lôi (An Lãng, ngoại thành Hà Nội ngày nay). Tháng 3 năm 40, hai Bà phát động khởi nghiã ở cửa sông Hát, đánh thắng bọn thống trị nhà Đông Hán, hiên ngang phủ định cái quyền”bình thiên hạ”của đế chế Hán.
    (2)    Người tà gian:Chỉ Tô Định và Mã Viện, bọn xâm lược nhà Hán.
    (3)    Triệu Ẩu: Tên của Triệu Thị Trinh, quê miền núi Nưa, Triệu Sơn, Thanh Hoá. Năm 248, Triệu Ẩu lãnh đạo nhân dân nổi dậy khởi nghĩa, tiến công bọn quan lại nhà Ngô.
    (4)    Lưu Phương: Để lại tiếng thơm.
    (5)    Tinh thôn: Còn nói thôn tính, có nghĩa là chiếm mất, nuốt mất.
    (6)    Phủ Bôn Tức Lý Bí, quê ở Long Hương(có lẽ là thuộc vùng Vính Phú ngày nay),sau khi dẹp xong giặc Lương, xưng là Lý Nam Đế, lấy tên là Vạn Xuân, việc Lý Bí xưng đế và đặt niên hiệu riêng, là sự phủ định ngay nhiên quyền làm “chủ toàn thiên hạ”của “Hoàng đế” phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực, và là sự khẳng định dứt khoát rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc độc lập, là chủ nhân của đất nước và vận mệnh của mình.
    (7)    Mai Hắc Đế: Tức Mai Thúc Loan, xuất thân nông dân, người anh hùng châu Hoan. Ông người đen, nổi tiếng giỏi võ, đã cầm đầu nghĩa quân chống lại ách đô hộ của nhà Đường
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓